Phòng - Điều trị rối loạn sinh sản trên lợn nái bằng ứng dụng Hormone Prostaglandin F2Alpha và Gonadotr Opin Releasing

Hiện nay, nước ta có khoảng 29 triệu đầu lợn, đứng đầu ASEAN và đứng thứ hai trong các nước châu Á; tốc độ tăng trưởng đàn trong giai đoạn 2007 - 2017 đạt 0,91%/năm; chiếm tới 60% cơ cấu ngành chăn nuôi. Tuy nhiên, năng suất chăn nuôi của Việt Nam chỉ ở dạng thấp, từ 17 - 24 con cai sữa/nái/năm. Một nguyên nhân quan trọng dẫn đến hiện tượng này là diễn biến phức tạp của tình hình dịch bệnh; không chỉ là các truyền nhiễm khó kiểm soát như Tai xanh, LMLM mà còn là hiện tượng rối loạn sinh sản (chậm động dục trở lại sau cai sữa, viêm tử cung) trên đàn lợn nái đang âm ỉ "đốt cháy trang trại".

Vậy hiện tượng rối loạn sinh sản trên lợn nái có biểu hiện gì và điều trị như thế nào? Trước hết, người chăn nuôi cần biết nguyên nhân xảy ra hiện tượng rối loạn này để có biện pháp phòng và điều trị kịp thời, phù hợp.

I. Chu kỳ động dục của lợn nái

Lợn là loài động vật đa thai, có chu kỳ động dục kéo dài 21 ngày, bao gồm 16 ngày ở pha thể vàng và 5 ngày ở pha nang trứng (Hình 1). Trong pha thể vàng, buồng trứng tiết progesterone, chỉ cho phép các nang trứng phát triển tới giai đoạn kích cỡ trung bình và ngăn không cho hiện tượng động dục xảy ra. Đến ngày 12-14, tử cung sản sinh prostaglandin F2alpha (PGF2) gây thoái hoá thể vàng và chấm dứt sự tổng hợp progesterone. Sau khi loại bỏ tác động kìm hãm của progesterone, gonadotropins từ tuyến dưới đồi kích thích tuyến yên sản sinh luteinizing hormone (LH) và follicle stimulating hormone (FSH), cho phép nang trứng phát triển để tổng hợp estrogen, sau cùng dẫn tới biểu hiện động dục. Trên lợn nái cai sữa sau đẻ, khoảng cách từ khi cai sữa tới khi động dục trở lại tương đương với giai đoạn nang trứng trong chu kỳ động dục. Xảy ra gần như đồng thời với thời điểm bắt đầu động dục là sự xuất hiện của đỉnh sóng LH, gây ra một loạt đáp ứng trong nang trứng, bao gồm cả việc chuyển từ tổng hợp estrogen sang progesterone và sản sinh PGF2 nội nang, gây ra hiện tượng rụng trứng (ovulation).

Hình 1. Chu kỳ động dục của lợn

II. Một số phác đồ ứng dụng sản phẩm Ovuprost (Prostaglandin F2alpha) và Gonadotropin trong điều trị rối loạn sinh sản trên lợn nái

Để giải quyết hiện tượng rối loạn sinh sản trên đàn lợn nái, liệu pháp hormone dựa trên tổ hợp GnRH và PGF2 đã được ứng dụng và cho kết quả tích cực.

2.1. Điều trị chậm lên giống ở lợn hậu bị

Lợn ở độ tuổi 240 ngày (8 tháng tuổi) đã thành thục về tính và thể vóc có khả năng cho sinh sản tốt. Nếu lợn động dục có thể phối khi lợn chịu đực, nhưng có nhiều trường hợp những con trong cùng một đàn sau 240 ngày chưa có biểu hiện động dục. Sử dụng hormone GnRH để tiêm cho lợn, hormone này có tác dụng kích thích nang trứng phát triển - chín - rụng, sau khi sử dụng GnRH lợn lên giống và chịu đực thì cho phối. Nếu sau khoảng 5 ngày, lợn chưa lên giống, sử dụng sản phẩm Ovuprost với liều dùng 1ml/heo nái để phá hủy thể vàng tồn lưu trên buồng trứng, khi lợn động dục và chịu đực thì cho phối.

Hình 2. Phác đồ điều trị chậm lên giống giai đoạn hậu bị

Hình 2.1. Sản phẩm Ovuprost

Sản phẩm Ovuprost™ của Công ty TNHH Bayer Việt Nam có công dụng gây thoái hoá thể vàng ở bò, ngựa và heo. Đối với Heo trong khoảng 111 – 117 ngày của thai kỳ, Ovuprost có tác dụng thúc đẻ trong vòng 36 giờ sau khi tiêm. Quá trình sinh đẻ xảy ra bình thường và tỷ lệ heo sơ sinh sống không bị ảnh hưởng.

2.2. Điều trị chậm lên giống

Lợn nái mang thai 114 ngày thì đẻ, sau khi đẻ lợn mẹ nuôi con được 24 ngày thì tách con. Sau khoảng 5 đến 7 ngày lợn mẹ đi giống, nhưng sau 7 ngày lợn mẹ chưa lên giống. Dùng sản phẩm Ovuprost với liều dùng 1ml/heo nái làm tiêu biến thể vàng, sau đó lợn lên giống chịu đực thì phối. Nếu 7 ngày sau điều trị, lợn chưa có biểu hiện lên giống, sử dụng hormone GnRH để phá hủy u nang và kích thích các nang trứng phát triển, sau đó quan sát lợn lên giống chịu đực thì phối.

Hình 3. Phác đồ điều trị chậm lên giống

2.3. Phòng và Điều trị viêm tử cung sau đẻ

  • Phòng bệnh viêm tử cung sau đẻ ở heo nái

    Hình 4. Phác đồ phòng bệnh viêm tử cung sau đẻ ở heo nái

    Lợn nái sau khi đẻ cần được tiêm sản phẩm Ovuprost với liều dùng 1ml/heo nái kích thích co bóp và mở cổ tử cung để đẩy sản dịch còn sót lại ra ngoài, do đó có thể hạn chế được sự xâm nhiễm của các vi khuẩn.

  • Điều trị bệnh viêm tử cung

    Hình 5. Phác đồ trị bệnh viêm tử cung ở heo nái

    Lợn nái sau đẻ cần được chẩn đoán viêm tử cung, điều trị kết hợp kháng sinh cục bộ, kháng viêm sản phẩm Ovuprost với liều dùng 1ml/heo nái. Kháng sinh có tác dụng kìm hãm và ức chế vi khuẩn là nguyên nhân chính gây viêm nhiễm, kháng viêm có tác dụng chống viêm giảm tác động của hệ miễn dịch đối với vi khuẩn và độc tố do vi khuẩn tiết ra. Trong khi đó, PGF2 kích thích co bóp và mở cổ tử cung để đẩy dịch viêm sót lại ra ngoài.

    Bài học "Bão giá lợn" trong thời gian vừa qua cho chúng ta động lực để tái định hình cơ cấu chăn nuôi: tăng quy mô lớn, giảm quy mô nhỏ lẻ; tạo điều kiện đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quy trình chăn nuôi; trong đó có việc ứng dụng liệu pháp hormone vào trong quản lý sinh sản đàn lợn nái, như đã được ứng dụng trên đàn bò sữa và đem lại những kết quả tích cực.

    Để được tư vấn sử dụng sản phẩm hiệu quả, vui lòng liên lạc với Bộ phận Thuốc Thú y Chăn nuôi Bayer Việt Nam:

    • Hotline: 1800556808 để được hỗ trợ.
    • Đại lý Thuốc Thú y Chăn nuôi gần nhất tại đây.

    Công ty TNHH Bayer Việt Nam luôn nỗ lực hết mình nhằm mang lại những giải pháp an toàn – hiệu quả – tiết kiệm cho người dân nói chung và người chăn nuôi nói riêng.

     

    Tài liệu tham khảo

    1. Kirkwood R.N., Aherne F.X., Foxcroft G.R. (1998). Effect of gonadotropin at weaning on reproductive performance of primiparous sows. Swine Health Prod.; 6:51–5.

    2. Kirkwood R.N. (1999). Pharmacological intervention in swine reproduction. Swine Health Prod.; 7(1):29–35.

    3. Knox R.V., Rodriguez-Zas S.L., Miller G.M., Willenburg K.L., Robb J.A. (2001). Administration of P.G. 600 to sows at weaning and the time of ovulation as determined by transrectal ultrasound. J Anim Sci.; 79:796–802.

    4. Soede N.M., Langendijk P., Kemp B. (2011). Reproductive cycles in pigs. Anim Reprod Sci.;124:251–8.

     

    Bản quyền © thuộc Công ty TNHH Bayer Việt Nam. Bài viết này trên Website http://bah.bayer.vn/ (“Website”) bao gồm thông tin, tài liệu, dữ liệu, đồ hoạ, hình ảnh có bản quyền và thuộc quyền sở hữu hoặc kiểm soát bởi Công ty TNHH Bayer Việt Nam. Sử dụng trái phép các nội dung này có thể dẫn đến việc vi phạm bản quyền và các quyền sở hữu trí tuệ của chúng tôi hoặc bên thứ ba hợp tác với chúng tôi. Không được sửa đổi, sao chép, phân phối, đăng tải, dịch ngược hoặc truyền đạt bài viết dưới bất kỳ hình thức nào nếu không có sự đồng ý bằng văn bản của Công ty TNHH Bayer Việt Nam.