Tìm hiểu về bệnh Acid dạ cỏ trên bò sữa (Rumen Acidosis)

Bệnh acid dạ cỏ (Rumen Acidosis) chủ yếu là do bò được cho ăn quá nhiều thức ăn tinh để đáp ứng cho nhu cầu dinh dưỡng sản xuất sữa. Bò sữa nuôi tại Việt Nam hiện cũng đang được nuôi bằng khẩu phần mất cân đối nghiêm trọng về tỷ lệ tinh khô. Do thiếu thức ăn thô xanh nên các hộ chăn nuôi thường gia tăng các loại thức ăn tinh, thức ăn phụ phế phẩm (hèm bia, bả mì, bả đậu…) trong khẩu phần  nên dẫn đến tình trạng bò bệnh acid dạ cỏ Ngoài ra, khi stress nhiệt, bò ăn giảm nên người chăn nuôi muốn cung cấp đủ chất dinh dưỡng bằng  việc áp dụng khẩu phần cao năng lượng với cấp thức ăn có hàm lượng chất dinh dưỡng cao từ thức ăn dễ lên men (thức ăn tinh, bột đường..) cũng là nguyên nhân chính gây nên bệnh acid dạ cỏ.

Khi bò bệnh acid dạ cỏ sẽ dễ mắc các bệnh kế phát như chân móng, áp xe gan, nhiễm trùng huyết, viêm vú và khả năng sản xuất sẽ giảm (năng suất, chất lượng sữa giảm). Bệnh Acid dạ cỏ gần như không có biện pháp điều trị triệt để (chỉ điều trị các bệnh kế phát) mà chì áp dụng cá biện pháp giảm thiểu tác hại và ngăn ngừa là chính.

 

 

  1. 1. Tóm tắt quá trình tiêu hóa ở bò sữa

Tiêu hóa là quá trình biến đổi, phân giải những thức ăn vào thành những phần đơn giản hơn để cơ thể có thể hấp thu. Việc phân giải những thức ăn thành những phần nhỏ hơn xảy ra ở hệ tiêu hóa nhờ vào hoạt động của các enzym như các enzym phân giải chất đạm (Proteolytic Enzym), phân giải chất béo (Lipolytic Enzym), phân giải chất bột đường (Amylytic enzym). Một loại thức ăn mà không có enzym phân giải được là chất cellulose. Bò sữa cũng như các loài nhai lại khác có khả năng tiêu hóa sử dụng được các thức ăn cellulose nhờ vào hệ thống vi sinh vật ở dạ cỏ.

Hệ thống vi sinh vật dạ cỏ sẽ lên men phân giải các thức ăn thành amoniac (NH3) và các acid béo bay hơi. Các chất này một phần sẽ được hấp thu qua thành dạ cỏ, dạ tổ ong và phần còn lại sẽ được vi sinh vật. Các vi sinh vật sau đó sẽ được tiêu hóa ở dạ múi khế như nguồn thức ăn. Một phần thức ăn không bị vi sinh vật phân giải tại dạ cỏ (by pass) sẽ được chuyển thẳng xuống dạ múi khế và được tiêu hóa hấp thu (tương tự chức năng tiêu hóa ở thú dạ dày đơn). Ở một bò sữa sức khỏe bình thường, được nuôi với khẩu phần thích hợp, hệ thống vi sinh vật ổn định, 70% lượng thức ăn bò ăn vào sẽ được hệ vi sinh vật phân giải và sử dụng. Phần còn lại sẽ được tiêu hóa trực tiếp và loại thải ra ngoài.

Các acid béo bay hơi do quá trình lên men của các vi sinh vật trong dạ cỏ (chủ yếu là  Acid acetic, propionic và butyric) cung cấp 50 - 70% năng lượng cho bò sữa và tạo 50% lượng mỡ trong sữa sản xuất và tạo thành những thành phần khác nhau trong sữa. Ví dụ, acid acetic tạo thành chất béo sữa, acid propionic tạo thành glucose trong gan, đường lactose và chất protein trong sữa. Acid butyric làm cho thành dạ cỏ có tính thẩm thấu để các acid béo bay hơi đi qua.

  1. 2. Sinh lý pH dạ cỏ 

Độ pH dạ cỏ của bò sữa biến động tùy theo khẩu phần ăn, thời điểm lấy mẫu khảo sát (liên quan đến thời điểm cho bò ăn). Trong điều kiện bình thường (bò không bệnh), độ pH dạ cỏ biến động từ 5,5 -7,0. Độ pH dạ cỏ sẽ giảm nếu bò cho ăn quá nhiều thức ăn tinh bột dễ lên men (nhất là trong trường hợp cho ăn tại cùng một thời điểm). Tùy khả năng trung hòa hoặc hấp thu acid của từng cá thể bò mà độ pH sẽ giảm nhiều hay ít sau khi ăn. Lượng thức ăn bột đường dễ lên men ăn vào tùy thuộc vào lượng vật chất khô ăn vào và tỷ lệ tinh thô trong khẩu phần. Bò càng ăn nhiều thì độ pH càng dễ bị hạ thấp.

Bò có một hệ thống phức tạp để trung hòa acid dạ cỏ thông qua hệ thống tiết nước bọt. Nước bọt có chứa nhiều Natri, Kali, các loại bicarbonate và các loại phosphat. Lượng nước bọt tiết ra tùy thuộc vào quá trình nhai lại của bò sữa. Bò càng nhai lại nhiều thì lượng nước bọt tiết ra càng nhiều. Khẩu phần của bò sữa càng nhiều thức ăn có xơ và kích thước lớn thì kích thích bò nhai lại nhiều. Người ta ước tính nếu một bò cho ăn khẩu phần và cách chế biến thức ăn phù hợp thì lượng nước bọt tiết ra hằng ngày có thể lên đến 100- 150 lít/con/ngày.

Acid béo được hấp thu một cách thụ động của thành dạ cỏ và góp phần lớn trong việc ổn định độ pH của dạ cỏ. Diện tích niêm mạc của dạ cỏ được bao phủ bởi các chồi nhỏ nhờ đó làm tăng diện tích bề mặt của dạ cỏ. Khi bò được cho ăn nhiều thức ăn bột đường dễ lên men, chiều dài của các chối này sẽ tăng lên làm tăng diện tích tiếp xúc và làm tăng khả năng hấp thu acid của dạ cỏ. Trong một số trường hợp các chồi này bị xơ hóa (do bệnh) hoặc do nhiễm ký sinh trùng (ký trùng bám vào bề mặt dạ cỏ) thì khả năng hấp thu acid của dạ cỏ sẽ bị giảm.

Khi pH dạ cỏ bị giảm thấp, nhóm vi khuẩn Streptoccus bovis sẽ tăng sinh và lên men glucose thành acid lactic (một loại acid mạnh). Acid lactic (acid béo không bay hơi) là acid có hại, nó là cho pH dạ cỏ hạ thấp và cản trở hoạt động các vi sinh vật dạ cỏ và làm giảm hoạt động của dạ cỏ và dạ tổ ong ( nguyên nhân chính của bệnh acid dạ cỏ và các bệnh liệt dạ cỏ, dạ tổ ong). Khi đó độ pH của dạ cỏ sẽ nhanh chóng giảm thấp, các vi khuẩn tiêu hóa chất xơ sẽ bị ngăn chặn và nhóm vi khuẩn sản sinh acid lactic thật sự (như lactobacillus) sẽ sản sinh ra nhanh chóng và độ pH dạ cỏ sẽ giảm nhanh. Lúc này các nhóm vi khuẩn sử dụng acid lactic (như Selenomonas ruminantium, Megasphaera elsdenii) sẽ phát huy vai trò ích lợi của nó trong việc ổn định pH dạ cỏ. Các vi khuẩn này sẽ sử dụng acid lactic và tạo ra các acid béo bay hơi.

Nhìn chung, bò có khả năng tự điều hòa để ổn định pH dạ cỏ thông qua việc trung hòa độ acid dạ cỏ nhờ vào nước bọt, khả năng hấp thu acid của thành dạ cỏ, sự thích nghi của hệ thống vi sinh vật dạ cỏ và điều chỉnh lượng thức ăn ăn vào. Tuy nhiên khả năng này cũng chỉ có giới hạn, nếu bò cho ăn quá nhiều thức ăn tinh thì pH dạ cỏ sẽ giảm và gây những tác động dây chuyền lên sự biến dưỡng của gia súc.

 

  1. 3. Bệnh Acid dạ cỏ

Bệnh acid dạ cỏ là một bệnh biến dưỡng phổ biến trên bò sữa. Đây là loại một bệnh biến dưỡng. Nguyên nhân chính bắt nguồn từ việc nuôi dưỡng không phù hợp đặc biệt là do ăn quá nhiều thức ăn tinh. Tùy theo độ pH của dạ cỏ, người ta phân loại 2 cấp độ bệnh tùy theo độ pH dạ cỏ.  PH dạ cỏ

  1. 4. Nguyên nhân và tiến trình gây bệnh acid dạ cỏ

Nguyên nhân chính gây ra bệnh acid dạ cỏ là do khẩu phần thức ăn cho bò có nhiều thức ăn bột đường lên men nhanh và hệ thống đệm (trung hòa acid dạ cỏ) không hoạt động hiệu quả.

Tiến trình phát triển bệnh acid dạ cỏ và bệnh toan huyết (acid máu hay bệnh acid biến dưỡng) bao gồm các giai đoạn sau:

  1. Giai đoạn cận cấp tính (hay cận lâm sàng): Khi khẩu phần ăn của bò sữa có nhiều thức ăn bột đường lên men nhanh, nhóm  vi khuẩn phân giải chất bột đường sẽ tăng sinh nhanh và sản xuất ra nhiều acid béo bay hơi (chủ yếu là acid butyric và propionic) và làm cho độ pH dạ cỏ giảm nhanh chóng (< 5,5).
  2. Giai đoạn cấp tính: Khi độ pH dạ cỏ giảm thấp hơn 5,5, vi khuẩn nhóm Streptococcus bovis sẽ gia tăng sinh sản và  sẽ sản sinh ra nhiều acid lactic. Acid lactic là acid mạnh nên làm giảm độ pH dạ cỏ nhanh ( pH <5,2). Trong điều kiện này các vi khuẩn chuyên sản sinh ra acid lactic (như Lactobacillus sp.) sẽ tăng sinh nhanh và sản sinh ra nhiều acid lactic. Độ pH dạ cỏ sẽ tiếp tục giảm thấp nhanh chóng (pH <5,0)
  3.  Giai đoạn lâm sàng hay giai đoạn bệnh acid biến dưỡng: Khi độ pH dạ cỏ thấp hơn 5,0, acid latic sẽ được hấp thu nhanh chóng qua thành dạ cỏ vào máu gây ra hội chứng bệnh acid biến dưỡng (chứng toan huyết).

 

 

Biểu đồ 1. Quá trình phát sinh bệnh Acid dạ cỏ và Acid biến dưỡng

 

Các bệnh liên quan đến các cấp độ bệnh Acid dạ cỏ và Acid biến dưỡng

 

Cấp độ Acidosis

Acid dạ cỏ hơi cấp

(SubAcute Rumen Acidosis)

Acid dạ cỏ cấp

(Acute Rumen Acidosis)

Acid Biến dưỡng

(Metabolic Acidosis)

Các sản phẩm acidchủ yếu

Acid butyric

Acid propionic

Acid lactic

Acid lactic

Độ pH dạ cỏ

< 5,5

< 5,2

<5,2

Các bệnh phát sinh/liên quan

Bệnh chân móng

Bệnh trên niêm mạc dạ cỏ

Bệnh áp xe gan

Viêm phúc mạc

Viêm phổi

Viêm màng trong tim

Viêm thận mủ

Viêm khớp

Toan huyết

Rối loạn hệ thống đệm

Calxi huyết giảm

Mất nước

Máu đông đặc hơn

Suy thận, suy gan…

 

  1. 5. Phương pháp xác định bệnh Acid dạ cỏ

Việc xác định và chẩn đoán bệnh acid dạ cỏ hiện nay rất khó khăn và phức tạp. Người ta chỉ có thể chẩn đoán bệnh thông qua dấu hiệu thứ cấp từ các tác hại do nó gây ravà thông qua việc điều chỉnh nguyên nhân gây ra bệnh acid dạ cỏ (nghĩa là nếu điều chỉnh khẩu phần nuôi dưỡng mà bò trở lại bình thường thì xác định đó là bệnh acid dạ cỏ). Việc phân tích đánh giá và đo độ pH của dạ cỏ cũng được xem là một trong những biện pháp để chẩn đoán và xác định bệnh. Tóm lại, để xác định bò bệnh acid dạ cỏ phải kết nối các dữ liệu:

  1. Triệu chứng của các bệnh liên quan đến bệnh acid dạ cỏ: Có thể dựa trên một số triệu chứng lâm sàng của các bệnh liên quan đến bệnh acid dạ cỏ như bệnh chân móng, bò gầy ốm (mặc dù bò vẫn ăn uống đầy đủ), xuất hiện các áp-xe trên cơ thể không rõ nguyên nhân, xuất huyết phổi (chảy máu ở mũi, miệng…), bệnh lệch dạ múi khế …Đặc biệt các trường hợp xuất huyết tại mũi hoặc ho ra máu là biểu hiện của hội chứng nghẽn tĩnh mạch chủ sau và là di chứng của bệnh acid dạ cỏ. Ngoài ra, còn có thể xem xét các dấu hiệu trên đàn bò như tiêu chảy nhẹ, liệt dạ cỏ, kém ăn và bầm tím móng…
  2. Kết quả phân tích khẩu phần thức ăn và phương thức cho ăn: Việc phân tích đánh giá khẩu phần thức ăn và phương thức cho ăn cũng là một trong những biện pháp xác định bệnh acid dạ cỏ. Tuy nhiên việc phân tích này cũng không thể xác định chính xác  vì nếu chỉ dựa trên khẩu phần thì không  biết chính xác bò ăn bao nhiêu. Ngay cả khi khẩu phần ăn được xác định  thì cũng không biết chính xác hoàn toàn vấn đề nào xảy ra trong dạ cỏ của bò. Thực ra, đối với khẩu phần thức ăn, độ pH dạ cỏ còn phụ thuộc vào lượng thức ăn ăn vào thực sự, kích thước thức ăn, tỷ lệ tinh thô…
  3. Hàm lượng béo trong sữa: Hàm lượng béo trong sữa cũng được sử dụng như một trong những chỉ số để xác định bệnh acid dạ cỏ, mặc dù không hoàn toàn đúng vì hàm lượng béo trong sữa bị ảnh hưởng của nhiều yếu tố. Hàm lượng béo trong sữa bị giảm  thường là do bệnh acid dạ cỏ nhưng cũng có thể bị ảnh hưởng bởi những yếu tố khác  như khẩu phần quá dư thừa chất béo, sử dụng các chất đệm hay chất trung hòa acid quá nhiều…
  4. Độ pH của dịch dạ cỏ: Độ pH của dịch dạ cỏ. được xem như chỉ số quan trọng trong việc xác định bệnh acid dạ cỏ. Tuy nhiên việc thu lấy dịch dạ cỏ và đo độ pH cũng đòi hỏi những phương pháp chính xác. Các phương pháp lấy dịch dạ cỏ thông qua đường miệng  thường không chính xác  vì có thể bị ảnh hưởng bởi nước bọt làm sai lệch kết quả đo độ pH.
  5. Quan sát các biểu hiện chung của toàn đàn: Có thể sử dụng các biểu hiện chung của toàn đàn để xác dịnh bệnh acid dạ cỏ một cách gián tiếp như :Chất lượng sữa giảm: Tỷ lệ béo , tỷ lệ đạm (protein) sữa giảm; đàn bò có biểu hiện bệnh chân móng; độ ngon miệng giảm, lượng thức ăn ăn vào giảm; đôi khi xuất hiện tiêu chảy; phân thường có bọt  khí, có chất nhầy, lẫn sợi huyết và nhiều thức ăn không tiêu hóa (các loại thức ăn hạt, cỏ); giảm nhai lại (50% số bò không nhai lại khi nằm).

Nội dung trên trình bày về bệnh Acid dạ cỏ giúp người nuôi hiểu thêm về nguyên nhân, tình trạng và tiến trình phát triển bệnh ở bò sữa. Để có biện pháp phòng bệnh hiệu quả, bài viết "Biện pháp hiệu quả phòng bệnh Acid dạ cỏ hiệu quả trên bò sữa" sẽ cung cấp kiến thức hỗ trợ người nuôi từ việc xây dựng khẩu phần ăn đến khâu chế biến thức ăn hợp lý.

Hiện nay, trên thị trường loại thức ăn cho bò sữa chứa các chất bổ sung nói trên chính là sản phẩm Pecutrin của Bayer. Loại thực ăn bổ sung này có thành phần bao gồm chất béo (có bổ sung Canxi dạng propionate và dạng Canxi phosphate cũng góp phần giúp ổn định pH dạ cỏ và cung cấp Canxi), Niacine và Choline (góp phần trong việc chuyển hóa chất béo làm giảm rủi ro bệnh ketosis, gan nhiễm mỡ), chất đệm…

 

 

Pecutrin được sử dụng bổ sung cho bò sữa trong giai đoạn chuyển tiếp đến hết chu kỳ cho sữa nhằm hạn chế các bệnh biến dưỡng đặc biệt là bệnh acid dạ cỏ, bệnh sốt sữaketosis. Sản phẩm có thể dùng trong công thức thức ăn hỗn hợp, phối trộn TMR hay rải cho ăn riêng lẻ với liều sử dụng như sau:

  • Bò có năng sữa thấp hơn 25 kg sữa/con/ngày:  30 g/con/ngày
  • Bò có năng sữa thấp hơn 30 kg sữa/con/ngày:  40 g/con/ngày
  • Bò có năng sữa lớn hơn 40 kg sữa/con/ngày  :100 g/con/ngày

 

 

Để được tư vấn sử dụng sản phẩm hiệu quả, vui lòng liên lạc với Bộ phận Thuốc Thú y Chăn nuôi Bayer Việt Nam:

  • Hotline: 1800556808 để được hỗ trợ.
  • Đại lý Thuốc Thú y Chăn nuôi gần nhất tại đây.

Công ty TNHH Bayer Việt Nam luôn nỗ lực hết mình nhằm mang lại những giải pháp an toàn – hiệu quả – tiết kiệm cho người dân nói chung và người chăn nuôi nói riêng.